Chồng mượn CCCD đi vay tín chấp khi sắp ly hôn nên hay không?

Sắp ly hôn, có nên cho chồng mượn thẻ căn cước để đi vay tín chấp

Về nguyên tắc, khi đề cập đến việc vay tài sản sẽ có 2 hình thức cơ bản là vay thế chấp và vay tín chấp.

– Vay thế chấp là dùng tài sản của người vay để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ vay. Vì cho vay theo hình thức này ít xảy ra rủi ro cho bên cho vay, nên lãi suất vay thế chấp thường thấp hơn so với vay tín chấp.

– Trong khi đó, vay tín chấp là dùng uy tín của người vay ra để đảm bảo nghĩa vụ này và việc cho vay này ẩn chứa nhiều rủi ro mất khả năng thanh toán của bên vay, nên lãi suất vay thường cao hơn so với vay thế chấp. Do đó, khi làm thủ tục vay tín chấp, tùy theo yêu cầu của bên cho vay sẽ đòi hỏi bên vay phải cung cấp các giấy tờ như Căn cước công dân, Giấy xác nhận cư trú, Giấy đăng ký xe, Hóa đơn điện nước, Hợp đồng lao động, Sao kê bảng lương…Thậm chí có trường hợp bên cho vay còn yêu cầu cung cấp thông tin của người thân liên quan.

Theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, không phải mọi nghĩa vụ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân đều là của 2 vợ chồng và cả 2 phải cùng chịu trách nhiệm. Cụ thể, các nghĩa vụ dưới đây là nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ chồng:

Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình nêu, vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30. Tức là vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình; hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

Điều 37 quy định vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.

Như vậy, với quy định nói trên, trường hợp chồng Huyền vay tín chấp và sử dụng số tiền đó vào mục đích đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình (mua sắm tài sản cho gia đình, sinh hoạt phí, đóng tiền học, chữa bệnh…) thì khoản vay này là nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Vợ chồng có nghĩa vụ ngang nhau trong việc trả nợ. Trường hợp ly hôn, vợ chồng liên đới chịu trách nhiệm trả cho bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác và phải được sự chấp thuận của bên cho vay.

Trường hợp chồng sử dụng số tiền vay tín chấp không vì đáp ứng nhu cầu thiết yếu thì được xác định là khoản vay riêng, chỉ chồng có nghĩa vụ trả khoản nợ này.

Tuy nhiên, trên thực tế rất khó xác định tiền vay được sử dụng vào những mục đích gì, sử dụng một phần hay toàn bộ cho nhu cầu thiết yếu. Do vậy, để chứng minh chồng sử dụng toàn bộ tiền vay cho mục đích riêng (đầu tư, kinh doanh…) cũng không đơn giản

Do đó, để tránh gặp rắc rối về sau liên quan đến khoản vay này của chồng, tốt nhất là nên hỏi thêm về hợp đồng vay này và xem kỹ các nội dung trong hợp đồng. Việc không nắm bắt rõ các thông tin trong hợp đồng vay cùng điều khoản thỏa thuận mà cho chồng mượn Căn cước công dân của mình để làm thủ tục vay tín chấp kinh doanh làm ăn sẽ khiến vợ có thể phải đối diện với rủi ro liên đới chịu trách nhiệm đối với khoản vay ấy về sau.

Bài viết liên quan
0916161083
icons8-exercise-96 challenges-icon chat-active-icon
chat-active-icon