Vay và mất khả năng chi trả thì chủ nợ phải làm như thế nào?

Thế nào là vay tài sản?

Theo quy định của Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015, hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên vay. Khi đến hạn trả, bên vay phải trả lại bên cho vay tài sản cùng loại, đúng số lượng và chất lượng, và chỉ cần trả lãi nếu có thoả thuận hoặc quy định của pháp luật.

Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 xác định tài sản là các đồ vật, tiền bạc, giấy tờ có giá trị và quyền tài sản. Do đó, việc vay tiền cũng được coi là một hình thức vay tài sản.

Việc vay tiền được quy định trong lĩnh vực dân sự và phải tuân theo các quy định của luật dân sự. Trong trường hợp xảy ra tranh chấp liên quan đến hợp đồng vay tiền, các bên có thể nộp đơn tới Tòa án nơi bên bị đơn cư trú để tiến hành xem xét và giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

Bên vay không có khả năng trả nợ thì chủ nợ có thể làm gì?

Theo Điều 7 Luật Thi hành án dân sự 2008, được sửa đổi bởi khoản 4 Điều 1 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi 2014 và Điều 30 Luật Thi hành án dân sự 2008 có quy định người được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Điều 45 Luật Thi hành án dân sự 2008, được sửa đổi bởi khoản 19 Điều 1 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi 2014 cũng quy định người phải thi hành án có thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án.

Và trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay.

Người phải thi hành án phải kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án với cơ quan thi hành án dân sự và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình. (Điều 44 Luật Thi hành án dân sự 2008, được sửa đổi bởi khoản 17 Điều 1 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi 2014).

Theo Điều 44a Luật Thi hành án dân sự 2008 (Điều này được bổ sung bởi khoản 18 Điều 1 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi 2014 thì căn cứ kết quả xác minh điều kiện thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án khi người phải thi hành án không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án.

Theo đó, về nguyên tắc khi Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án thì thời điểm đó chưa thể thi hành án và buộc bên vay trả nợ cho bên cho vay (chủ nợ) được. Hiện nay pháp luật không có quy định cưỡng chế buộc họ phải trả nợ khi họ không có khả năng, điều kiện để trả nợ.

Cho nên khi bên vay không có khả năng trả nợ thì chủ nợ và bên vay chỉ có thể tiến hành đàm phán thỏa thuận lại về khả năng trả nợ của bên vay, bằng nhiều phương án khác nhau, ví dụ: gia hạn thời gian trả nợ hoặc giảm nợ. Phương án này có thể được thực hiện trong trường hợp mà bên vay đang gặp khó khăn tài chính và cần thêm thời gian để có khả năng trả nợ hoặc giảm bớt gánh nặng trả nợ cho họ.

Cũng có thể thỏa thuận về việc trích một phần thu nhập của bên vay để trả nợ. Trường hợp này có thể được thực hiện khi bên vay có công việc nhất định và có thu nhập, theo đó các bên có thể thỏa thuận để bên vay trả tiền dần bằng phần thu nhập hằng tháng của họ, tuy nhiên cần lưu ý phần thu nhập còn lại sau khi trích trả nợ dần vẫn bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho họ.

Trình tự, thủ tục khởi kiện người vay không có khả năng trả nợ

Thứ nhất, đối với thủ tục khởi kiện để đòi nợ:

– Đơn khởi kiện cần bao gồm thông tin cá nhân của bạn và của những người nợ tiền, cùng với hóa đơn, chứng từ, giấy vay nợ và các tài liệu khác để chứng minh rằng những người đó đang nợ tiền.

– Sau khi nhận được đơn khởi kiện của bạn, tòa án sẽ tiến hành các thủ tục sau: xem xét đơn, tiếp nhận vụ án và yêu cầu nộp tạm ứng phí; thu thập và xác minh chứng cứ; tổ chức phiên họp, kiểm tra việc giao nộp và tiếp cận chứng cứ, và thực hiện công tác hòa giải. Nếu các bên không thể hòa giải được, tòa án sẽ đưa vụ án ra xét xử.

Thứ hai, đối với thủ tục yêu cầu thi hành án:

– Theo quy định của Điều 4 Luật thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi và bổ sung năm 2014, bản án hoặc quyết định của tòa án có hiệu lực pháp lý phải được tôn trọng bởi các cá nhân, cơ quan, tổ chức và công dân. Các cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan phải chấp hành nghiêm túc bản án và quyết định và chịu trách nhiệm pháp lý về việc thi hành án. Do đó, trong trường hợp bản án (hoặc quyết định) của tòa án yêu cầu người vay tiền phải thanh toán toàn bộ nợ, nhưng bên vay vẫn không tự nguyện trả, bạn có quyền yêu cầu thi hành án.

– Theo quy định của Điều 30 và Luật thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi và bổ sung năm 2014, trong vòng 5 năm kể từ ngày mà bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp lý, người được thi hành án có thể tự mình hoặc ủy quyền cho người khác để làm đơn yêu cầu thi hành án và gửi đơn này tới cơ quan thi hành án cấp quận, huyện nơi tòa án sơ thẩm xét xử, để yêu cầu thi hành án.

Hy vọng bài viết có ích cho các bạn. Đội ngũ luật sư của NGG Consulting luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc của bạn. Nếu có những vấn đề nào chưa rõ cần được tư vấn thêm hãy liên hệ ngay NGG Consulting để được tư vấn chi tiết.

Bài viết liên quan
0916161083
icons8-exercise-96 challenges-icon chat-active-icon
chat-active-icon